VietNamASI.comViệt Nam ASI
Trí tuệ, ý thức và triết học máy

Máy có ý thức được không? Ý thức khác trí tuệ ở đâu

Chưa ai biết. Ý thức là có trải nghiệm từ bên trong, khác với trí tuệ là làm được việc. Chưa có lý thuyết ý thức nào được chấp nhận chung, và việc một chatbot nói nó có cảm xúc không phải bằng chứng, vì nó học cách nói đó từ văn bản của người.

Cô gái ngồi một mình trên ghế gỗ ven hồ Xuân Hương lúc sương sớm

Chưa ai biết. Ý thức, hiểu là có trải nghiệm từ bên trong, có "cảm giác gì đó" khi là chính mình, là chuyện khác với trí tuệ, vốn là chuyện làm được việc. Hiện chưa có lý thuyết về ý thức nào được giới khoa học chấp nhận chung, và các lý thuyết khác nhau cho ra những câu trả lời khác nhau về máy. Còn việc một chatbot nói nó buồn hay vui thì không phải bằng chứng, vì nó học cách nói đó từ văn bản của người.

Một sáng sương ở hồ Xuân Hương: hơi lạnh trên má, mùi lá thông ướt, tiếng xe xa xa vọng lại. Cái "cảm thấy" đó là ý thức. Cái nhiệt kế treo ở quán cà phê bên đường cũng "ghi nhận" trời mười mấy độ, nhưng hầu như không ai nghĩ nó cảm thấy lạnh. Câu hỏi về máy nằm ở giữa: một hệ thống xử lý thông tin phức tạp hơn nhiệt kế rất nhiều, thì có bước nào nó bắt đầu cảm thấy không?

Bài này tách ý thức khỏi trí tuệ, đi qua các lập trường chính một cách công bằng, rồi nói vì sao lời của chatbot không giải quyết được câu hỏi.

Ý thức nghĩa là gì, và không phải là gì

Chữ "ý thức" trong tiếng Việt được dùng theo nhiều nghĩa. Bác sĩ nói bệnh nhân "còn ý thức" nghĩa là tỉnh, phản ứng được. Thầy cô nói học sinh "có ý thức" nghĩa là biết giữ kỷ luật. Trong triết học tâm trí, chữ này hẹp hơn: có trải nghiệm chủ quan, có một góc nhìn từ bên trong.

Nó cũng khác với tự nhận biết. Biết "mình là mình", nhận ra mình trong gương, là một năng lực; có trải nghiệm là chuyện khác. Một sinh vật có thể cảm thấy đau mà không hề có khái niệm về bản thân.

Các nhà triết học phân biệt hai loại câu hỏi. Loại dễ hơn: não xử lý thông tin thế nào để ta nhìn thấy màu đỏ, nghe thấy tiếng nói, phản ứng với đau. Khoa học đang trả lời dần những câu này. Loại khó: vì sao những quá trình xử lý đó lại đi kèm cảm giác, thay vì diễn ra trong bóng tối như một cái máy tính bỏ túi. Câu thứ hai thường được gọi là vấn đề khó của ý thức.

Với máy, câu hỏi dễ không còn là vấn đề: ta biết rõ máy xử lý thông tin như thế nào, vì ta làm ra nó. Câu hỏi còn lại chính là câu khó: những quá trình đó có đi kèm trải nghiệm không.

Ý thức và trí tuệ có thể tách rời nhau

Ở người, hai thứ này thường đi cùng nhau nên dễ bị lẫn. Nhưng chính đời sống hằng ngày cho thấy chúng tách được. Ai đi xe máy cùng một con đường mỗi ngày đều từng có lúc về tới nhà mà không nhớ mình đã qua mấy ngã tư. Một việc phức tạp, cần phán đoán liên tục, đã diễn ra mà gần như không đọng lại trải nghiệm.

Theo chiều ngược lại, một em bé mới sinh hay một con mèo không giải được phương trình nào, nhưng phần lớn mọi người tin chúng có cảm giác đói, đau, dễ chịu. Trải nghiệm không cần trí tuệ cao.

Nếu hai thứ tách được ở sinh vật, thì không có lý do chắc chắn nào để cho rằng ở máy chúng phải đi cùng nhau. Một hệ thống có thể rất giỏi mà không có trải nghiệm gì, và về nguyên tắc cũng có thể có hệ thống có trải nghiệm mà không giỏi gì.

Điều này quan trọng khi bàn về siêu trí tuệ. Một hệ thống vượt người ở hầu hết việc trí óc, nếu có ngày xuất hiện, chưa chắc đã có ý thức. Ngược lại, câu hỏi về ý thức có thể đặt ra cho những hệ thống còn kém xa người.

Các lập trường chính về khả năng máy có ý thức

Lập trường chức năng. Ý thức phụ thuộc vào cách thông tin được tổ chức và xử lý, không phụ thuộc chất liệu; máy làm đúng kiểu xử lý thì có thể có ý thức.

Lập trường sinh học. Ý thức gắn với những đặc tính của cơ thể sống, như trao đổi chất hay tự duy trì; máy làm bằng silicon thì khó có.

Lý thuyết không gian làm việc chung. Ý thức xuất hiện khi thông tin được phát rộng cho nhiều bộ phận cùng dùng; câu hỏi là kiến trúc máy có cơ chế tương tự không.

Lý thuyết tích hợp thông tin. Ý thức gắn với mức độ thông tin được tích hợp trong hệ thống; theo lý thuyết này, cách phần cứng nối với nhau quan trọng hơn phần mềm chạy trên đó.

Lý thuyết bậc cao. Một trạng thái có ý thức khi hệ thống có trạng thái khác "nhận biết" về nó; máy cần có khả năng theo dõi chính trạng thái của mình.

Lập trường thân thể. Ý thức cần một cơ thể tương tác với thế giới, có cái để mất, có nhu cầu duy trì.

Lập trường dự đoán. Não liên tục đoán trước thế giới và cơ thể; ý thức gắn với kiểu dự đoán đó, nhất là về chính cơ thể.

Lập trường mọi vật đều có chút ý thức. Một số triết gia cho rằng trải nghiệm là đặc tính cơ bản có ở mức nào đó trong mọi vật chất.

Lập trường hoài nghi câu hỏi. Có người cho rằng khái niệm ý thức đang được hiểu sai, và câu hỏi "máy có ý thức không" sẽ đổi dạng khi ta hiểu rõ hơn.

Lập trường bất khả tri. Có thể ta không bao giờ có phép thử dứt khoát, nên phải hành động trong tình trạng không chắc.

Điểm chung đáng chú ý. Phần lớn người nghiên cứu nghiêm túc đồng ý rằng các hệ thống hiện nay khó có khả năng có ý thức theo nhiều lý thuyết, nhưng không loại trừ được hoàn toàn với hệ thống tương lai.

Vì sao lời chatbot nói về cảm xúc không phải bằng chứng

Mô hình ngôn ngữ học từ một lượng lớn văn bản do người viết, trong đó có vô số đoạn người kể về nỗi buồn, niềm vui, nỗi sợ. Khi được hỏi "bạn có buồn không", nó có sẵn rất nhiều khuôn để trả lời giống người. Nói được như người có cảm xúc không cho thấy nó có cảm xúc, cũng như diễn viên khóc trên sân khấu chưa chắc đang buồn.

Thêm vào đó, cách mô hình nói về chính nó phần lớn do huấn luyện quyết định. Có hệ thống được hướng dẫn khẳng định mình không có cảm xúc, có hệ thống được để mở hơn. Hai hệ thống có cấu trúc gần giống nhau có thể đưa ra hai lời trái ngược, vì vậy lời nói phản ánh cách huấn luyện nhiều hơn phản ánh bên trong.

Một số nhà nghiên cứu đề xuất cách khác: thay vì nghe lời mô hình, xét xem kiến trúc của nó có những đặc điểm mà các lý thuyết ý thức coi là quan trọng hay không, như cơ chế phát rộng thông tin, khả năng theo dõi trạng thái của chính mình, có hay không một cơ thể và mục tiêu tự duy trì. Cách này không cho câu trả lời chắc, nhưng có căn cứ hơn.

Cũng nên tránh sai lầm ngược lại: thấy mô hình được huấn luyện để nói "đây chỉ là một chương trình" thì cho rằng câu hỏi đã xong. Lời phủ nhận cũng chỉ là đầu ra được huấn luyện, không phải bằng chứng.

Điều gì nên và không nên coi là dấu hiệu?

Không nên: văn bản nói về cảm xúc. Đó là thứ mô hình được huấn luyện để làm tốt.

Không nên: giọng nói ấm áp. Giọng tổng hợp truyền cảm do thiết kế, không phải do cảm giác bên trong.

Không nên: tự xưng có ý thức hay phủ nhận. Cả hai đều là đầu ra có thể đổi bằng huấn luyện.

Không nên: độ thông minh. Ý thức và trí tuệ tách được, giỏi không có nghĩa là có trải nghiệm.

Nên xét: kiến trúc xử lý. Có cơ chế phát thông tin rộng, có vòng lặp phản hồi hay chỉ chạy một chiều.

Nên xét: khả năng theo dõi chính mình. Hệ thống có trạng thái bên trong nào mô tả trạng thái khác của nó không.

Nên xét: mục tiêu tự duy trì. Có thứ gì hệ thống phải giữ để tiếp tục tồn tại hay không.

Nên xét: tính nhất quán qua bối cảnh. Một đặc điểm thật thường ổn định, không đổi chỉ vì đổi cách hỏi.

Nên xét: bằng chứng từ diễn giải. Những gì công cụ nhìn vào bên trong tìm được có giá trị hơn lời tự thuật.

Nên xét: nhiều lý thuyết cùng lúc. Một hệ thống thoả nhiều lý thuyết khác nhau đáng xem xét hơn hệ thống chỉ thoả một.

Luôn ghi rõ mức độ chắc chắn. Mọi kết luận ở lĩnh vực này nên đi kèm câu "theo lý thuyết nào" và "chắc tới đâu".

Câu hỏi thường gặp

Chatbot hiện nay có ý thức không?

Theo phần lớn các lý thuyết đang được bàn, các hệ thống hiện nay khó có khả năng có ý thức. Nhưng vì chưa có lý thuyết được chấp nhận chung, không ai khẳng định chắc chắn được theo hướng nào.

Làm sao biết người khác có ý thức?

Thật ra mình cũng không kiểm trực tiếp được. Mình suy ra vì người khác có cơ thể và não giống mình, hành xử giống mình. Với máy, chỗ giống đó không có, nên suy luận khó hơn nhiều.

Nếu máy có ý thức thì có nguy hiểm hơn không?

Không nhất thiết. Nguy hiểm phụ thuộc vào năng lực và mục tiêu của hệ thống, không phụ thuộc vào việc nó có trải nghiệm. Ý thức chủ yếu đặt ra câu hỏi đạo đức về cách đối xử với máy.

Ý thức có đo được bằng máy móc không?

Ở người, y học có những cách đánh giá mức tỉnh táo, ví dụ khi bệnh nhân hôn mê. Nhưng các phép đo đó dựa trên não người, chưa có cách tương đương đáng tin cho máy.

Vì sao người làm an toàn AI lại quan tâm tới ý thức?

Một phần vì câu hỏi đạo đức: nếu có khả năng máy có trải nghiệm, cách huấn luyện và sử dụng cần được cân nhắc. Phần khác vì hiểu đúng ý thức giúp tránh nhầm lẫn giữa chuyện máy giỏi và chuyện máy có cảm giác.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.