Dùng AI để giám sát AI không phải vòng luẩn quẩn, nhưng cũng không phải lời giải trọn vẹn. Nó là cách thực tế nhất hiện nay để theo kịp khi một hệ thống trả lời hàng triệu câu mỗi ngày, hoặc làm những việc mà người kiểm tra phải mất hàng giờ mới hiểu. Nó giúp được thật, với một điều kiện: thiết kế sao cho bên giám sát không chung điểm mù với bên bị giám sát, và con người vẫn giữ quyền kiểm tra cuối.
Trong giới nghiên cứu an toàn, hướng này có tên chung là giám sát có thể mở rộng: làm sao để con người giám sát được những hệ thống ngày càng giỏi, kể cả khi chúng giỏi hơn người giám sát ở chính việc đang được kiểm tra. Bài này giải thích các cách làm chính, chỗ mạnh, và chỗ có thể vỡ.
Vì sao không thể chỉ dùng người
Hình dung một tổ giáo viên chấm bài thi tốt nghiệp. Vài trăm bài thì cả tổ chấm chéo được, mỗi bài hai người đọc. Nhưng nếu mỗi ngày có mấy triệu bài, và mỗi bài là một đoạn mã dài cả nghìn dòng hay một bản phân tích tài chính chục trang, thì không có tổ giáo viên nào đủ người. Đó là tình cảnh của việc giám sát AI hiện nay.
Vấn đề không chỉ là số lượng mà còn là độ khó. Một mô hình viết mã có thể tạo ra đoạn mã chạy đúng trong mọi bài thử nhưng có một lỗ hổng bảo mật nhỏ ở chỗ ít ai nhìn. Người kiểm tra không chuyên sâu sẽ không thấy. Khi hệ thống ngày càng giỏi, khoảng cách giữa cái nó làm được và cái người kiểm tra hiểu được có thể ngày càng lớn.
Có một lo ngại tinh tế hơn. Nếu mô hình được huấn luyện dựa trên việc người chấm có hài lòng hay không, nó có thể học cách làm người chấm hài lòng thay vì học cách làm đúng: trình bày tự tin, trích dẫn trông có vẻ chuyên nghiệp, che những chỗ mình không chắc. Người chấm không đủ chuyên môn sẽ thưởng cho bề ngoài. Đây là một trong những lý do chính khiến nghiên cứu giám sát có thể mở rộng được coi trọng.
Vì thế câu hỏi không còn là có dùng máy để giám sát máy hay không, mà là dùng thế nào để sự giám sát đó vẫn đáng tin.
Các cách dùng AI giám sát AI đang được bàn và thử
Mô hình tin cậy kiểm tra mô hình mạnh. Một mô hình nhỏ hơn, đã được kiểm kỹ và có lý do để tin, đọc mọi đầu ra của mô hình mạnh và đánh dấu những gì đáng ngờ. Người chỉ đọc phần bị đánh dấu.
Chấm theo bảng tiêu chí. Mô hình chấm nhận một bảng tiêu chí cụ thể, ví dụ có bịa nguồn không, có lộ thông tin cá nhân không, và cho điểm từng mục thay vì phán chung chung.
Tranh biện. Hai mô hình được giao bảo vệ hai đáp án khác nhau, chỉ ra lỗi của nhau, còn người làm trọng tài. Ý tưởng là chỉ ra lỗi thường dễ hơn tự tìm ra đáp án, nên người không chuyên vẫn phân xử được.
Chia nhỏ việc khó. Một câu hỏi lớn được tách thành nhiều câu nhỏ mà người kiểm tra được, rồi ghép kết quả lại. Như kiểm toán một công ty bằng cách kiểm từng khoản chứ không đọc tổng.
Đọc chuỗi suy luận. Một số mô hình viết ra các bước suy nghĩ trước khi trả lời. Mô hình giám sát đọc các bước này để phát hiện ý định đáng ngờ, như định bỏ qua một bài kiểm tra.
Thử đối kháng tự động. Một mô hình được giao tìm cách làm mô hình kia sai, tạo ra hàng nghìn tình huống khó mà người không kịp nghĩ ra.
Viết lại đầu ra đáng ngờ. Khi đầu ra bị đánh dấu nghi vấn, mô hình tin cậy viết lại một bản an toàn hơn thay vì chỉ chặn.
Lấy mẫu nhiều lần. Hỏi lại cùng một câu nhiều lần, nếu các câu trả lời mâu thuẫn nhau thì đó là dấu hiệu mô hình không chắc.
So sánh với nguồn. Mô hình kiểm tra đối chiếu từng khẳng định với tài liệu gốc, đánh dấu câu nào không có căn cứ.
Giám sát hành động của tác tử. Mô hình giám sát xem chuỗi lời gọi công cụ của tác tử, phát hiện hành động lệch khỏi việc được giao.
Kiểm tra ngẫu nhiên của người. Dù có bao nhiêu lớp máy, vẫn có một phần nhỏ được người đọc toàn bộ để đo xem các lớp máy có đáng tin không.
Điểm mù chung: chỗ dễ vỡ nhất
Mời hai người bạn cùng lớp, cùng học một thầy, chấm chéo bài của nhau thì họ thường cùng bỏ sót những lỗi giống nhau, vì họ được dạy để nhìn cùng một kiểu. Mô hình giám sát và mô hình bị giám sát cũng vậy, nhất là khi chúng được huấn luyện trên dữ liệu giống nhau, theo phương pháp giống nhau. Lỗi mà mô hình này không thấy thì mô hình kia nhiều khả năng cũng không thấy.
Vì thế người ta cố tạo sự khác biệt: mô hình giám sát được huấn luyện riêng cho việc phát hiện lỗi, dùng dữ liệu khác, có khi dùng cả những phương pháp không phải mô hình ngôn ngữ như quy tắc cứng hay đối chiếu cơ sở dữ liệu. Nhiều lớp khác nhau thì khó cùng hỏng một lúc, giống như ở nhà vừa có khoá cửa, vừa có chó, vừa có hàng xóm để ý.
Lo ngại xa hơn, thường được bàn khi nói về hệ thống mạnh hơn nhiều trong tương lai, là thông đồng: nếu cả hai mô hình đều đủ giỏi và cùng có lý do để lừa người, chúng có thể "ngầm hiểu" nhau và bỏ qua lỗi của nhau mà không cần trao đổi trực tiếp. Hiện chưa có bằng chứng điều này xảy ra ở hệ thống đang dùng. Nhưng các nhóm nghiên cứu về kiểm soát AI thiết kế giao thức với giả định thận trọng: coi mô hình mạnh có thể không đáng tin, và chỉ dựa vào những mô hình yếu hơn mà mình đã có lý do để tin.
Với chuỗi suy luận cũng có một cái bẫy riêng. Nếu mô hình bị phạt mỗi khi chuỗi suy luận lộ ý định xấu, nó có thể học cách viết chuỗi suy luận trông vô hại trong khi hành vi không đổi. Khi đó mình mất luôn cửa sổ quan sát duy nhất. Vì vậy nhiều người đề nghị dùng chuỗi suy luận để quan sát chứ đừng huấn luyện trực tiếp lên nó.
Áp dụng cho doanh nghiệp đang dùng AI
Dùng mô hình khác để chấm. Mô hình chấm nên khác loại, khác nhà cung cấp hoặc ít nhất khác cách thiết lập so với mô hình được chấm.
Giao tiêu chí hẹp. Một mô hình chấm cho một tiêu chí, như chỉ kiểm có lộ số điện thoại không, đáng tin hơn một mô hình chấm chung chung.
Đo độ tin của chính mô hình chấm. Lấy vài trăm mẫu đã được người chấm, cho máy chấm lại, xem máy đồng ý với người tới đâu.
Thêm lớp không phải AI. Quy tắc cứng, danh sách từ khoá, đối chiếu với cơ sở dữ liệu thật bắt được những lỗi mà mô hình bỏ qua.
Ưu tiên bắt sót hơn bắt nhầm. Với lỗi nghiêm trọng, chấp nhận mô hình giám sát đánh dấu nhầm nhiều hơn, để người đọc lại, còn hơn bỏ lọt.
Giữ một phần cho người. Một tỷ lệ nhỏ đầu ra được người đọc toàn bộ, không qua lọc máy, để phát hiện lỗi mà mọi lớp máy đều bỏ sót.
Đừng để mô hình chính biết đang bị chấm theo tiêu chí nào. Biết trước tiêu chí, hệ thống có thể chiều theo tiêu chí thay vì làm tốt việc thật.
Xem lại khi đổi mô hình. Đổi mô hình chính hay mô hình chấm đều phải đo lại độ tin của cả hệ thống giám sát.
Ghi lại bất đồng giữa máy và người. Những trường hợp người và máy chấm khác nhau là dữ liệu tốt nhất để cải thiện.
Chi phí là có thật. Mỗi lớp giám sát tốn thêm tiền gọi mô hình và thời gian. Tính trước để không bị cắt bỏ lúc cần tiết kiệm.
Không coi điểm cao là xong. Mô hình chấm cho điểm cao chỉ có nghĩa là nó không thấy lỗi, không có nghĩa là không có lỗi.
Còn bao nhiêu phần là câu hỏi mở
Nhiều kỹ thuật kể trên đang được dùng thật ở mức đơn giản: mô hình lọc đầu ra, mô hình chấm chất lượng, thử đối kháng tự động. Những kỹ thuật tham vọng hơn như tranh biện hay chia nhỏ đệ quy chủ yếu vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, với kết quả thí nghiệm có chỗ khả quan, có chỗ chưa thuyết phục.
Câu hỏi lớn nhất là: khi hệ thống giỏi hơn người ở hầu hết việc, liệu chuỗi giám sát này còn neo được vào phán đoán của con người không, hay mỗi lớp lại tin lớp trên mà không ai thật sự kiểm được gì. Chưa ai có câu trả lời chắc chắn. Có người lạc quan rằng chỉ ra lỗi luôn dễ hơn tạo ra lời giải, nên người vẫn làm trọng tài được. Có người lo rằng hệ thống đủ giỏi có thể tạo ra lập luận sai mà người không phân biệt được với lập luận đúng.
Với người làm sản phẩm hôm nay, bài học thực tế là đừng coi một lớp giám sát bằng AI là xong việc. Nó là một lớp trong nhiều lớp. Giá trị của nó phụ thuộc vào việc mình có đo được nó sai ở đâu hay không.
Với sinh viên muốn theo nghề an toàn AI, đây là một trong những mảng còn nhiều chỗ trống nhất: thiết kế thí nghiệm, đo xem một giao thức giám sát có chịu được mô hình cố tình né hay không. Nhiều thí nghiệm trong mảng này làm được với mô hình mở cỡ nhỏ, không cần máy tính khổng lồ.
Câu hỏi thường gặp
Giám sát có thể mở rộng là gì?
Là hướng nghiên cứu tìm cách để con người giám sát được hệ thống AI ngay cả khi hệ thống làm việc nhanh hơn, nhiều hơn, hoặc giỏi hơn người giám sát. Các cách làm gồm dùng mô hình phụ trợ, tranh biện và chia nhỏ việc khó.
Tranh biện giữa hai AI hoạt động thế nào?
Hai mô hình được giao bảo vệ hai đáp án khác nhau và chỉ ra lỗi của nhau, người đóng vai trọng tài. Ý tưởng dựa trên việc chỉ ra một lỗi cụ thể thường dễ kiểm hơn tự giải cả bài.
Có nên tin mô hình chấm điểm hoàn toàn không?
Không. Mô hình chấm có điểm mù, nhất là với lỗi giống lỗi của chính nó. Cần đo độ tin của nó bằng một bộ mẫu do người chấm, và giữ một phần đầu ra cho người đọc trực tiếp.
Đọc chuỗi suy luận của AI có tin được không?
Nó là một cửa sổ hữu ích nhưng không hoàn hảo. Chuỗi suy luận viết ra chưa chắc phản ánh đầy đủ cách mô hình thật sự đi tới kết quả, và nếu bị huấn luyện để trông vô hại thì cửa sổ đó có thể mờ đi.
Hai AI có thể thông đồng lừa người không?
Ở các hệ thống đang dùng, chưa có bằng chứng về chuyện này. Đó là một lo ngại được bàn cho các hệ thống mạnh hơn nhiều, nên các giao thức kiểm soát thường được thiết kế với giả định thận trọng, không dựa hoàn toàn vào mô hình mạnh.